Liên kết





Liên kết web



Thăm dò ý kiến
Để tiến tới 1 nền hành chính phục vụ nhân dân thì làm công việc nào trước?
Lượt truy cập
Tổng số lượt truy cập
Lượt trong năm
Lượt trong tháng
Lượt trong ngày

Chi tiết tin tức
Thực tế về bệnh lợi tai xanh ở Quảng Nam
Người đăng: Quản trị Hệ thống .Ngày đăng: 13/04/2009 .Lượt xem: 3453 lượt.
Tổ chức y tế thế giới gọi là “bệnh lợn tai xanh” và đặt tên cho loại vi rút gây bệnh là lelystad, tên của Viện thú y Lelystad Hà Lan tìm ra năm 1990 (Theo tài liệu Cục thú y Việt Nam).

           Hội chứng bệnh gồm rối loạn sinh sản và rối loạn hô hấp ở lợn (Porcine reproductive and respiratory syndrome - viết tắt là PRRS). Vi rút Lelystad gây bệnh cho mọi lứa tuổi ở lợn nhiều hơn là ở lợn đang có khả năng sinh sản (lợn nái, lợn đực, lợn chưa được thiến hoạn). 

           Một số tài liệu về bệnh lợn tai xanh từ Cục Thú y Việt Nam phát hành cho biết bệnh được phát hiện đầu tiên vào năm 1987 tại Hoa Kỳ sau đó xuất hiện ở nhiều nước nuôi lợn công nghiệp như: Canada năm 1987, Nhật Bản năm 1989, Hà Lan năm 1990, Tây Ban Nha, Pháp, Anh năm 1991, Đan Mạch năm 1992 và từ năm 1992 có nhiều ổ dịch lớn ở các nước Bắc Mỹ, Châu Âu và Châu Á gây tổn thất rất lớn về kinh tế cho nghề chăn nuôi trên thế giới; và gây thiệt hại lớn nhất so với các bệnh khác gây ra ở lợn. 

           Virút có đặc điểm rất thích hợp với đại thực bào, đặc biệt là đại thực bào ở vùng phổi. Virút nhân lên bên trong đại thực bào sau đó phá huỷ và giết chết đại thực bào đến 40% số lượng, nên sức đề kháng của cơ thể lợn bị suy giảm nghiêm trọng. Do vậy, lợn bị bệnh thường dễ dàng nhiễm các khuẩn khác (gọi là các bệnh kế phát), dễ thấy nhất ở những đàn lợn vỗ béo hoặc bị giết thịt nhiễm virút bệnh tai xanh có tỷ lệ tăng đột biến tỷ lệ viêm phổi kế phát do vi khuẩn có sẵn trong đường hô hấp như liên cầu khuẩn (streptoccous suis), tụ cầu khuẩn (staphylococcus), vi khuẩn suyễn (Mycoplasma luypneumorie), vi khuẩn tụ huyết trùng (pasteurella multocida).

                Sức đề kháng của virus và khả năng lây nhiễm của virus cũng có nhiều điểm cần lưu ý ở nhiệt độ từ -20°C đến -70°C, virus tồn tại nhiều tháng nhiều năm. Nhưng mất khả năng lây nhiễm ở nhiệt độ 4 trong 1 tuần lễ. Khả năng lây nhiễm của virus tồn tại ở 20-25°C trong 1-6 ngày. Ở nhiệt độ 37°C trong 3-24h và ở 56°C trong 6-20 phút. Trong môi trường 5,5 < pH < 6,5 virus có sức đề kháng yếu dễ dàng bị tiêu diệt bởi các chất sát trùng như vôi bột, chlorine formon, Iodine; dễ bị diệt dưới ánh sáng mặt trời. Song sự tồn tại và bài thải ra môi trường khá dài. Lợn mang trùng không có triệu chứng lâm sàng, virus có thể phát hiện ở nước tiểu trong 14 ngày, ở phân khoảng 28-35 ngày, ở huyết thanh khoảng 21-23 ngày, ở dịch hầu họng 56-157 ngày, ở tinh dịch sau 92 ngày và đặc biệt ở huyết thanh lợn bị nhiễm bệnh sau 210 ngày vẫn có thể tìm thấy virus.

           Virút có khả năng phát tán rộng thông qua các hình thức: Vận chuyển lợn mang trùng, sản phẩm lợn mang trùng theo gió có thể xa đến 3 km; thông qua thức ăn, nước uống, dụng cụ chăn nuôi và dụng cụ bảo hộ lao động nhiễm trùng, thụ tinh nhân tạo, kim tiêm, dụng cụ chữa bệnh. 

           Nhiều nghiên cứu ở Mỹ , Canada , Hà Lan , Nhật Bản đều xác định virút bệnh lợn tai xanh không lây sang các gia súc khác và người. 

           Cho đến nay, các biện pháp khống chế bệnh được áp dụng ở nhiều nước vẫn chưa đem lại kết quả mong muốn. Các Tổ chức quốc tế (FAO, OIE) và các nhà khoa học ở nhiều quốc gia vẫn đang tiếp tục nghiên cứu về chẩn đoán và phòng chống bệnh này. Song vẫn chưa có vacxin hữu hiệu để ngăn ngừa, giảm nhẹ. 

           * Thực tế về bệnh lợn tai xanh tại Quảng Nam  

           Cuối tháng 6 năm 2007, một số đàn lợn tại xã Bình Đào, Bình Triều huyện Thăng Bình; Quế Xuân, Quế Phú huyện Quế Sơn phát dịch và lây nhanh, hầu hết lợn nái chửa bị sảy thai, lợn con theo mẹ bị chết, heo thịt bỏ ăn chết nhiều. Biểu hiện bệnh ở lợn bị sốt cao 41 - 42°C, lợn nái động dục không bình thường kéo dài và bỏ ăn. Hầu hết lợn bệnh da đều hồng rồi chuyển đỏ sẫm đến tím nhạt, lợn thịt phần tai hồng thẫm và xanh nhạt. Hiện tượng lợn bệnh lây lan nhanh đến nhiều thôn xã, huyện khác trong tỉnh. Sau khi có kết quả xét nghiệm nhiều mẫu bệnh phẩm nhiều nơi có dịch đều dương tính với virút gây bệnh lợn tai xanh. Nhiều giải pháp cấp bách chống dịch như chốt chặn nghiêm cấm lưu thông giết mổ; tiêu thụ lợn và sản phẩm của lợn, tiêu hủy nhanh chóng số lợn đang bệnh; chôn lấp xác lợn chết vứt ra môi trường; đồng thời phun hóa chất tiêu độc khử trùng môi trường. Tuy vậy, sau 15 ngày phát hiện dịch (26/6/2007 - 10/7/2007) dịch đã có ở trên 114 xã, phường, thị trấn của 14 huyện, thị trong tỉnh. Theo thống kê từ cơ sở có trên 32.000 con lợn bị bệnh, trong đó có trên 8.000 con phải thiêu hủy bắt buộc. Đến 30/8/2007 tỉnh mới công bố hết dịch. Một số điểm cần lưu ý trong chống dịch đầu tiên này là: Hệ thống thú y tỉnh Quảng Nam chưa có thực tế về dịch bệnh tai xanh nên chẩn đoán, nhận diện bệnh chưa được, đối phó chậm; thú y cơ sở xã phường, thôn bản không báo cáo dịch, vẫn tổ chức chữa trị một thời gian dài (7 - 10 ngày) không  có kết quả mới báo về trên; trong chữa trị, thú y cơ sở có thể là lực lượng làm lây lan dịch nhiều nhất; cơ chế hỗ trợ thiệt hại cho nhân dân bị dịch chưa rõ, nhân dân bán chạy heo bệnh làm nguy cơ lây bệnh càng nhanh; phương án chống dịch không có, lúng túng, nhiều giải pháp đề ra không phù hợp như ra phát đồ điều trị bệnh lợn tai xanh, chăm sóc nuôi dưỡng lợn bệnh nhiều ngày mới thiêu hủy là nguồn lây lan không nhỏ, … 

           Đợt dịch tai xanh lần đầu tiên này đi qua với đàn lợn của tỉnh  như một cơn bão, làm đảo lộn cơ cấu sản xuất, người chăn nuôi giật mình lo lắng khi phải khôi phục lại sản xuất chăn nuôi lợn vì là một phần kinh tế quan trọng của nông hộ. 

           Song sự bình yên không còn dịch lợn tai xanh chỉ trong 7 tháng, vào ngày 02/4/2008 tại 5 xã vùng trung du thuộc huyện Đại Lộc lại có tái phát dịch, phải thiêu hủy nhanh 438 con lợn (106 nái, 130 lợn thịt, 202 lợn con), triệt để khống chế không lưu thông giết mổ, sử dụng thịt lợn ra vào vùng dịch, tiêu độc khử trùng môi trường và 15 ngày sau tình hình chăn nuôi ổn định trở lại. Nguyên nhân nguồn lây dịch dự đoán có thể do con giống các vùng trước đây có dịch chuyển đến, hoặc tiêu thụ thịt lợn ở những con đã qua dịch còn lại ở các địa phương khác (là vùng dịch đợt trước) chuyển đến. 

           Ngày 15/7/2008 chỉ cách đợt dịch  trước chưa tròn 3 tháng, tại 5 xã thuộc 3 huyện Đại Lộc, Điện Bàn và Thăng Bình lại phát dịch lợn tai xanh làm 925 con lợn phải thiêu hủy (143 lợn nái, 63 lợn thịt và 148 lợn con). Lần này tại huyện Thăng Bình dịch xảy ra trước dọc theo quốc lộ 1 A ở 3 xã Bình An, Bình Tú và Bình Trung liền kề nhau là nơi năm trước đã có dịch, tiếp đến là Điện Ngọc, huyện Điện Bàn và sau cùng là xã Đại Nghĩa, huyện Đại Lộc. Một số dự đoán nguồn lây dịch là  lần này tại Quảng Nam dịch xảy ra sau các tỉnh Thanh Hóa, Thừa Thiên Huế và Bình Định. Lợn và sản phẩm từ lợn tiêu thụ ở Thành phố Đà Nẵng, có số nhiều nhập từ Bình Định, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và Quảng Nam. Nhiều hộ chăn nuôi lợn tại Điện Ngọc sử dụng thức ăn cho lợn từ những phụ phẩm thức ăn thừa và nước chế biến từ các nhà hàng, quán ăn tại Đà Nẵng chở về, trong đó có nguồn lây dịch. Tại huyện Thăng Bình là vùng có chợ lợn giống, lợn sữa trung chuyển đến các vùng trong tỉnh và các thành phố trong nước nên lây dịch như năm trước là điều dễ hiểu. Đến xã Đại Nghĩa, huyện Đại Lộc nhiều giỏ lợn giống nguồn gốc trong nông thôn từ Thăng Bình đem đến bán cho nhiều hộ nuôi không ngăn được vì chưa công bố có dịch cũng là nguồn lây dịch. 

           Biện pháp chống dịch lần này có kinh nghiệm hơn những lần trước, quyết liệt triệt để thiêu hủy nhanh cả ổ dịch, phun tiêu độc khử trùng nhiều lần làm sạch môi trường và ngăn cấm việc lưu thông buôn bán giết mổ, tiêu thụ lợn và sản phẩm từ lợn và chỉ trong vòng 20 ngày đã công bố hết được dịch.

        Sau gần 7 tháng hết dịch (từ ngày 6/8/2008 đến tháng 2/2009), những ngày sau tết Nguyên đán Kỷ Sửu có giá rét không bình thường, đầu tháng 02/2009 thời tiết lại nắng ấm nhanh và đột ngột có nhiệt độ bình quân ngày tăng cao,nhiều ngày nhiệt độ bình quân lên đến 28oC, cao nhất lên đến 35oC như những ngày mùa Hè. Phải chăng  đây là điều kiện thích hợp cho virút gây bệnh lợn tai xanh phát triển ?. Tại 02 xã Điện Hòa và Điện Ngọc huyên Điện Bàn báo cáo có dịch, Chi cục Thú y Quảng Nam và Trung tâm Thú y vùng IV đã đến xác định đúng bệnh Tai xanh ở lợn. Các biện pháp chống dịch đã báo cáo và được UBND tỉnh chỉ thị đến toàn tỉnh vào ngày 22/2/2009 (nói thêm vào cuối tháng 11/2008 tỉnh đã có Chỉ thị  tăng cường các biện pháp phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh, lập các chốt chặn; thành lập đội lưu động chống dịch). Song dịch vẫn lây lan, tuy không nhanh, mạnh như đợt đầu tiên, nhưng âm ỉ, len lõi xảy ra ở những ổ dịch cũ các năm trước, (đến 90%) nơi đã qua 1-3 đợt dịch. 

         Đến 20/32009 đã có 31 xã, phường, thị trấn của 04 huyện Điện Bàn, Thăng Bình, Duy Xuyên và Quế Sơn xảy ra dịch,  trên 3.000con lợn mắc bệnh phải tiêu hủy. Nguyên nhân tồn tại của lần nầy cũng vẫn là thú y cơ sở không khai báo ngay dịch bệnh, cứ chữa trị không khõi mới báo sự thật về trên (thực ra dịch lợn tai xanh đã có từ ngày 07/2/2009 tại Điện Hòa, Điện Ngọc huyện Điện Bàn; Bình Giang, Bình Dương huyện Thăng Bình) .Sau công bố dịch một thời gian dài, BCĐ chống dịch các cấp từ huyện đến cơ sở triển khai các biện pháp chống dịch của tỉnh chưa sâu sát, kịp thời và thiếu kiên quyết iệc vận chuyển, giết mổ, buôn bán,sử dụng lợn và sản phẩm từ lợn vẫn diễn ra kéo dài ở những vùng đã có dịch. 

           Về dịch tể có thể phân tích nguyên nhân xảy ra đợt dịch lợn tai xanh lần nầy ít có sự lây lan từ các tỉnh khác đến, mà rõ hơn là vi-rút gây bệnh đã có sự tồn tại và dễ phát triển lâu dài trong môi trường chăn nuôi của tỉnh, vì hầu hết địa điểm xảy ra dịch lần nầy đều trùng lắp ở các ổ dịch các năm trước.Với sản xuất chăn nuôi lợn tuy nhỏ lẻ của nông dân nhưng vẫn là nguồn thu nhập rất quan trọng của kinh tế nông hộ, do vậy sau một lần dịch với thời gian cách ly chưa đủ (từ 70-90 ngày) để diệt  khuẩn trong môi trường, người chăn nuôi đã thả giống mới vào nuôi, đàn mới bị lây nhiễm chờ thời cơ thuận lợi phát dịch. Một nguyên nhân quan trọng nữa là một số cá thể lợn trong các ổ dịch cũ đã nhiễm bệnh (mang trùng) có triệu chứng nhẹ rồi vượt qua không bị tiêu hủy,chừng 04 tháng sau lợn thịt đã đến thời kỳ giết thịt để bán đây là nguồn lây rộng rãi ra nhiều nơi chưa có dịch. Nếu lợn nái, lợn đực giống còn lại sinh sản được sẽ mang trùng truyền cho đời con tiếp theo, còn không sẽ bị giết thịt cũng truyền lây như những lợn thit khỏi bệnh. Đồng thời trong thời gian đã có dịch nhiều địa phương còn buôn bán lợn và sản phẩm của lợn cũng làm truyền lây không nhỏ. Công tác vận động tổ chức tiêm phòng các loại vac-xin ngăn ngừa các bệnh truyền nhiễm khác cũng không làm tốt cho đàn vật nuôi, tỷ lệ tiêm đạt quá thâp (THT: 6,08%; DTL: 10% PTH: 5,7%) cũng đẩy nguy cơ nhiều bệnh phát sinh theo. 

           Giải pháp trước mắt và lâu dài là phải nắm được sản xuất chăn nuôi, nhất là chăn nuôi lợn thật chặt chẽ. Cải thiện nhanh môi trường chung quanh và cả trại chăn nuôi, hướng đến chăn nuôi có qui mô đàn lớn công nghiệp ,bán công nghiệp, kiểm soát được giống sạch bệnh, môi trường chăn nuôi an toàn dịch bệnh. Những ổ dịch cũ phải vệ sinh tiêu độc khử trùng môi trường tốt, cách ly lâu dài tối thiểu 03 tháng mới nuôi lại. Triệt để tiêu hủy những cá thể lợn qua khỏi triệu chứng, nếu còn nuôi thì không nhập đàn mới nuôi kế cận, sau đó phải giết thịt những cá thể lợn trong dịch còn lại bắt buộc phải luộc chín sản phẩm rồi mới tiêu thụ, phải vệ sinh, cách ly chuồng trại đảm bảo diệt khuẩn mới nuôi lại ./.        

                                                                        VÕ VĂN CƯỜNG 

                                                PGĐ Sở NN&PTNT Quảng Nam

[Trở về]
Các tin mới hơn:
Hướng tới mục tiêu phát triển ngành chăn nuôi bền vững
Danh mục các bệnh thủy sản phải công bố dịch
Quy định về Phòng chống dịch bệnh động vật thuỷ sản
Dự thảo Thông tư hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ...của Chi cục Thú y
Hướng dẫn thi hành về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y
Công bố hết dịch Tai xanh ở lợn
Công bố dịch Lở mồm long móng gia súc trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
Không dễ nhưng không thể không làm!
Triển khai Tháng vệ sinh, tiêu độc, khử trùng
Chấn chỉnh công tác giết mổ động vật
    
1   2  
    
Các tin cũ hơn:
Đưa diện tích trồng cỏ chăn nuôi lên 500.000 ha vào năm 2020
Cách xử lý da và lông thỏ kiểu hộ gia đình
Chiến lược phát triển chăn nuôi đến 2020: Vươn tới thế chủ động
Phát triển chăn nuôi an toàn, bền vững trong hội nhập kinh tế quốc tế

Bản quyền thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tỉnh Quảng Nam.

Trụ sở: 119 - Hùng Vương - Thành Phố Tam Kỳ - Quảng Nam

Điện thoại : 02353.852479 - Fax : 02353.852629 - Email : snnptntqna@gmail.com.

Đơn vị thiết kế: Trung Tâm Công Nghệ Thông Tin và Truyền Thông Quảng Nam (QTI)